1. Nhập đề
Từ 1975 đến nay, người Việt Nam phải bỏ xứ ra đi, hàng hàng lớp lớp. Cuộc thoát hiểm bằng ghe thuyền đã tạo cho văn học thế giới một từ ngữ mới: boat-people, thuyền nhân. Thuyền nhân Việt Nam ngày nay có mặt khắp năm châu bốn bể: Âu Châu thì từ Ý đến Anh, từ Na Uy đến Thụy Điển; Á Châu thì hiện diện ở Phi Luật Tân, Đại Hàn, Nhật Bản; Úc Châu, Mỹ Châu thì đã đành mà ngay Phi Châu cũng có, Do Thái cũng có.
Nhiều lớp thành công nhưng cũng nhiều lớp ít thành công hơn; nhưng cái quan trọng đề cập ở đây là gia đình. Gia đình Việt Nam bị một cơn bão lốc thổi vào dữ dội: chồng đi cải tạo, con chết trên Kampuchia, vượt biên chết, được các nước nhân đạo giúp đỡ thì phải hội nhập với một nền văn hóa xa lạ, từ ngôn ngữ đến cư xử . Sau vài chục năm định cư, người Việt cũng gặp phải các vấn nạn xã hội như trong xã hội Tây phương đủ mọi cám dỗ, khác nhau về phong tục, đủ mọi thử thách về ngôn ngữ, về học hành, về công việc. Các vấn nạn liên hệ đến gia đình như li dị, li thân, sống chung hòa bình không hôn thú, gia đình tái cấu trúc, đó là chưa nói đến con cái lớn lên không nói được tiếng Việt, bạo hành, băng đảng,  rồi đến chuyện bảo trợ cha mẹ qua nhưng cha mẹ không thích nghi đòi về lại Việt Nam.Thật vậy, đó là truyện dài “ ngàn lẽ một đêm ”, kể không hết vì trong các báo xuất bản hàng tháng, hàng tuần luôn luôn có các mục “ gỡ rối tơ lòng ”, “ nhỏ to, to nhỏ ” khi nào cũng có thư hỏi và lời giải đáp đề cập đến các vấn nạn về tình yêu, về gia đình v.v..
Đại học hè năm nay đề nghị chủ đề: Tình yêu, gia đình và hội nhập rất hợp thời.  Đây là một chủ đề nóng bỏng của thời đại, liên quan đến nhiều nhân tố khác nhau: xã hội, kinh tế, tâm linh, giáo dục, định chế, các nhân tố này có tương quan nhiều chiều vì chúng đan xen,  lồng ghép và ảnh hưởng quan hệ với nhau rất phức tạp.
Muốn phân tích vấn đề cho kỹ, ta cần sử dụng  quan điểm hệ thống, nhìn gia đình như một hệ thống chịu tác động cả bên trong lẫn bên ngoài. Và ta phải phát hiện được các mối tác động bản chất quyết định sự phát triển của hệ thống thì mới điều khiển được sự hoạt động của nó .
 2. Quan điểm hệ thống là gì
Ta vẫn thường nghe và sử dụng hầu như quen thuộc các danh từ như hệ thống tuần hoàn, hệ thống tiêu hóa, hệ thống thần kinh (thần kinh hệ), hệ thống học đường, hệ thống y tế, hệ thống giáo dục, hệ thống thái dương (thái dương hệ ).
Trong khoa học nhân văn như tâm lý học, ngôn ngữ học, phân tâm học, càng ngày các học giả càng sử dụng  các quan niệm về hệ thống như tính toàn bộ (globalité), sự tương tác (interaction), cấp độ (niveau) . Vài ví dụ :
Hệ thống xã hội bao gồm: dân số, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, thể chế và cơ cấu xã hội ; các yếu tố này ảnh hưởng lẫn nhau
Hệ thống kinh tế bao gồm:  công việc làm ăn, sự thất nghiệp, tiền tệ, lạm phát, giàu nghèo và các yếu tố này cũng có ảnh hưởng lẫn nhau..
Các hệ trên tương tác với nhau, trao đổi năng lượng (energy), vật chất (matter) và thông tin (information).
Vậy hệ thống là gì ? Hệ thống là một tập hợp những mối tương tác giữa các bộ phận theo thời gian. Hệ thống gồm nhiều yếu tố, nhưng nhiều yếu tố không phải là hệ thống khi chúng chỉ là một tập hợp hỗn loạn, mất trật tự. Hệ thống có 4 điểm cơ bản sau đây:
– Sự tương tác 
Có nghĩa là sự tương quan giữa hai yếu tố không phải chỉ theo đường một chiều, do A tác động trên B mà nó có thể  do B tác động trên A nữa . Các tương quan giữa các hiện tượng là những tương tác có ảnh hưởng qua lại. Sự tương tác có thể đa dạng và tế nhị giữa hai cá nhân như : thầy-trò, vợ chồng, ông-cháu. Trong các khoa học truyền thông, sự tương tác ấy có thể là một ánh mắt, một nụ cười, một lời nói, một gợi ý v.v . Một dạng đặc biệt của tương tác là thông tin phản hồi (feedback)
–  Tính toàn bộ
Bản thân hệ thống không phải là con số cộng của các bộ phận mà các bộ phận cùng hoạt động, tương tác với nhau để sinh ra một cái toàn thể (holisme) mà cái toàn thể là cái gì lớn hơn số cộng của các bộ phận. Người Tây Phương nói là « The whole is more than the sum of its parts  » . Khái niệm toàn bộ dẫn ta đến nguyên tắc cấp bậc (hierarchy) giữa các hệ thống. Các vấn đề gặp phải không phải là một sự cộng lại các sự cố mà là một toàn thể có đặc tính riêng.
– Sự tổ chức
Tổ chức là một sự sắp xếp các tương quan, các quan hệ giữa các thành phần để tạo ra một hình thức mới có những đặc tính riêng mà các thành phần tự nó không có. Tổ chức còn là một tiến trình theo đó  vật chất, năng lượng và thông tin chúng kết hợp lại nhau để có một chức năng. Tổ chức cũng hàm nghĩa  có sự điều tiết (regulation).
– Sự phức tạp
Một hệ thống bao giờ cũng phức tạp, do nhiều nguyên nhân nội tại (do nhiều quan hệ giữa các thành phần) cũng như ngoại tại (vì có may rủi, ngẫu nhiên, duyên may ..)
Giữa hệ thống này với hệ thống kia và ngay giữa các yếu tố trong cùng một hệ thống, có những dòng chảy : dòng chảy năng lượng, dòng chảy thông tin, dòng chảy tiền tệ, dòng chảy vật chất. Các dòng chảy này chạy qua các kho dự trữ của hệ thống và chịu các chuyển hóa để tạo ra các sản phẩm và các phế phẩm .
Các tương quan giữa hệ thống với môi trường xung quanh là các đầu vào (input) và đầu ra (output).
Sử dụng tư duy hệ thống giúp ta hiểu là mọi việc có tương quan nhiều chiều, phi tuyến tính, do tác động nhiều yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế, nhân văn.. vậy cần có cái nhìn toàn bộ chứ không phải cục bộ; ta cần phân tích toàn hệ thống thì mới tìm được giải pháp hữu hiệu.
3.  Ứng dụng quan điểm hệ thống vào gia đình
3.1.  Gia đình ngày xưa bị chi phối bởi những điều kiện khác xa  ngày nay
– Có một hệ thống giá trị khác (hệ thống Nho giáo giáo điều một chiều, trọng nam khinh nữ, tam tòng tứ đức, tam cương, ngũ thường v.v. ). Cũng không phải ngẫu nhiên mà Hội nghị Phụ Nữ Thế Giới của Liên Hiệp Quốc đã họp ngay tại Bắc Kinh cách đây vài năm, mục đích để thay đổi nhận thức và đánh dấu vai trò ngang hàng của phụ nữ trong một xã hội vốn coi trọng nam giới của xã hội Trung Hoa
– Hệ thống kinh tế khác (hệ thống nông nghiệp, phần lớn ở nông thôn)Vì vậy, gia đình phải đông con để có người lo việc đồng áng.
– Hệ thống y tế khác (thấp kém, tin vào bùa phép, ma quỷ. ..) Vì vậy, tỷ lệ chết sơ sinh nhiều,   tuổi thọ thấp. Cái này kéo theo cái kia, do đó muốn tái lập cân bằng, phải lập gia đình sớm, sinh ra tục tảo hôn.
 Xưa kia, tình cảm đôi lứa bị đặt xuống hàng thứ ba, sau hai chữ hiếu, trung:
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung thì để phần cha
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình
Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy: ” con gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu “ và gả con căn cứ vào giai cấp, địa vị, quan hệ thâm tình, môn đăng hộ đối, toan tính tiền bạc:
 Mẹ em tham thúng xôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào
Bây giờ kẻ thấp người cao
Như dôi đủa lệch, so sao cho bằng.
Đũa lệch có nghĩa là chênh lệch quá nhiều về tuổi tác,
– Có thể chồng già như:
Vô duyên lấy phải chồng già
Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng
Nói ra đau đớn trong lòng
Cái nợ truyền kiếp,  phải chồng em đâu
– Có thể chồng trẻ như:
Mang danh thân gái có chồng
Chín đêm trực tiết, nằm không cả mười
Nói ra sợ chị em cười
Má hồng bỏ quá thiệt đời xuân xanh
– Hoặc chênh lệch về chân giá trị của mỗi bên như các câu ca dao sau:
 Tiếc thay hạt gạo tám xoan
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà
Cổ tay em trắng như ngà
Răng đen rưng rức, chồng xa kém người
Khốn nạn thay, thân nhạn ở với ruồi
Tiên ở với cú, người cười với ma
Con công ở lẫn con gà
Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên 
3.2. Gia đình ngày nay bị chi phối bởi nhiều hệ thống khác xưa
– Hệ thống giá trị khác:   Ngày nay, phụ nữ chiếm những địa vị trước kia dành cho nam giới,   nam nữ bình quyền nên người phụ nữ cũng có thể làm Tổng Thống, Thủ Tướng như nam giới (Phi luật Tân, Anh, Tích Lan, Hồi quốc, Ấn độ là các chứng cớ gần đây). Xã hội ở hải ngoại đã có các qui chế hưu bổng, dưỡng lão nên trai hay gái cũng không quan trọng như xưa.
Trai mà chi, gái mà chi
Con nào có nghĩa, có nghì là hơn
Trai hay gái không quan trọng bằng chất lượng: chỉ cần đứa con nào biết cách ăn ở đối xử với cha mẹ, làm tròn hiếu thảo với cha mẹ là hơn hết .
Thực vậy, nếu chỉ thích đẻ con trai thì tình trạng nam thiếu, gái thừa sẽ lại là một vấn nạn về nhân khẩu học. Nhiều xứ, đặc biệt là Trung Quốc, tình trạng không cân đối này diễn ra ở mức độ đáng ngại và cán cân nghiêng về phái nam: tỷ lệ bé trai/gái dưới 5 tuổi ở Trung Quốc là 118/100 và tình trạng này tương tự ở Đài Loan. Phụ nữ càng ít thì tỉ lệ sinh sản càng thấp. Chính vì vậy, có tình trạng buôn gái sang Trung Quốc, gả chồng Đài Loan. Đã có tiên đoán là vào năm 2020, số ” thặng dư “ thanh niên Trung Quốc ở độ tuổi 20 sẽ vượt quá toàn bộ số phụ  nữ Đài Loan !
– Hệ thống kinh tế  khác: Thương mãi được xem trọng, sự đô thị hóa và toàn cầu hóa khiến lưu thông hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn trước, không phải giới hạn chỉ trong nông nghiệp với tầm nhìn giới hạn ở lũy tre xanh, cái cổng làng
– Hệ thống y tế phát triển mạnh với khoa học và dụng cụ tân tiến, trẻ em sơ sinh chết rất ít:  Tại các xứ tiền tiến, tỷ lệ em bé sơ sinh chết chỉ  là 9 trên 1000 em và ngay cả tại những xứ kém mở mang như Mexique trước kia năm 1960, tỷ lệ chết trẻ em sơ sinh là  87 em trên 1000  nhưng ngày nay chỉ 26 em (chỉ có vài xứ chậm tiến mới có tỷ lệ trẻ sơ sinh chết còn cao như Haiti (105 tức một bé trên 10), Bolivie (88), Perou (65), Nicaragua (58).Trai cũng như gái chủ động được sự sinh đẻ vì có phương tiện.
– Hệ thống xã hội cũng đổi thay: Ở thành thị thì các giây liên kết xã hội không còn chặt chẽ như ở nông thôn; trinh tiết thì thông thoáng hơn, bớt khắt khe hơnGiới tính không  còn đặt ra vì con gái đi học đông và còn giỏi hơn con trai; vì trình độ giáo dục của phụ nữ ngày càng cao nên phụ nữ chủ động được sự sinh đẻ và dễ tự túc về kinh tế, không bị lệ thuộc vào ông chồng như xưa . Xã hội ngày nay có quan điểm tự do và cá nhân chủ nghĩa hơn.
– Hệ thống truyền thông chuyển tải:  Cực nhiều, loan truyền cực nhanh qua các phương tiện hiện đại như Internet, thâm nhập cực sâu (đến mọi nơi ), tác động cực mạnh có ảnh hưởng hoặc tích cực xây dựnghoặc tiêu cực đến tâm trạng, ý thức . Ngày nay, nhờ công nghệ Internet, kết nhau qua mạng, nói chuyện trên phone, không cần môi giới, không cần những bức thơ tình nồng cháy dài, không cần bông hồng trao tay, chỉ click bông hồng trên máy là người yêu có ngay trên màn máy tính!
Vì toàn bộ các hệ xã hội, hệ kinh tế, hệ giáo dục đều khác xa ngày xưa dưới chế độ phong kiến nên cũng có ảnh hưởng đến hệ phụ gia đình:
– Gia đình ngày nay nhỏ hơn, lập gia đình muộn hơn, ngại sinh con sẽ phổ biến hơn do đó số con thường 1 đến 2 con mà thôi .. Gia đình càng nhỏ đi, một phần vì đời sống kinh tế, một phần vì chủ động được sự sinh đẻ nên số con của mỗi phụ nữ lấy chồng cũng quãng 1.8 con, có nghĩa là 1000 phụ nữ sinh ra 1800 con. Đó là số liệu ở Viet Nam gần đây. Riêng trung bình phụ nữ Đài Loan và Hàn Quốc hiện chỉ sinh 1.4 con; HongKong 1.25 .Trung Quốc thì chỉ cho phép đẻ một con. Tỷ lệ sinh sản ở Âu Châu cũng thấp, thấp hơn mức cần có để tạo ra thế hệ thay thế. Ở Bresil, năm 1960, số con cho mỗi phụ nữ là 6, ngày nay chỉ còn 2 và Mexique cũng vậy, do đó số di dân lậu qua Mỹ cũng giảm đi..
– Tuổi thọ cũng tăng lên, ngày nay, tuổi thọ trung bình các nước tiền tiến là 73 tuổi, thay vì 55 tuổi như xưa .
– Gia đình ngày nay thì tỷ lệ li dị rất lớn .Tỷ lệ li hôn ngay tại các nước châu Á cũng càng ngày càng cao: từ vài % cho đến dưới 20% tuy còn xa tỷ lệ 50% của Mỹ, 37% của Pháp nhưng cũng là hồi chuông cảnh báo về sự phân rã gia đình, tế bào của nền tảng xã hội .
Hiện nay, tại nhiều xứ ,  có một cặp trên 3, có xứ  một cặp trên 2 cuối cùng đi đến ly dị (50%), trong khi đó, cách đây 30 năm, chỉ một cặp trên 10 mới li dị (10%).
– Vì ly dị nên nhiều gia đình ngày nay chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ (familles monoparentales); ly dị thì con cái phần lớn tòa án cho bà mẹ giữ, cha  chỉ có thể đến thăm  con vào những ngày giờ nhất định, do đó trẻ  mất định hướng.
Con chung, anh để tôi nuôi
Tình chung anh nỡ để xuôi mặc đời
Ở Mỹ, năm 1991, chỉ có 50.8% trẻ em Mỹ dược sống trong gia đình truyền thống bên cạnh cha mẹ đẻ . Người Mỹ gốc Hispanic thì tỉ lệ đó giảm xuống 38%, gốc châu Phi lại càng đáng ngại: 27%
Mà các trẻ em sống trong các gia đình này thường không ai dạy dỗ, con không cha như nhà không nóc và dễ  hư hỏng, dễ trở thành đối tượng của cần sa, ma túy, bỏ học, phạm pháp. Và hậu quả là xã hội gánh vác.
– Từ 1986 đến 1996, số người Canada sống chung không cưới hỏi (union libre) tăng lên xấp đôi.
– Nhiều ” bà mẹ trẻ độc thân “ (teenager mothers)  nghĩa là các thiếu nữ ở tuổi vị thành niên  có con không biết cha là ai, nói nôm na là đẻ con hoang : các thống kê cho thấy năm 1960, chỉ có 5.3% trẻ em ở Hoa Kỳ là con hoang. Năm 1990, tỉ lệ là 28%. Nhiều  thiếu nữ này có con cái với các bạn trai khác nhau .
Như vậy, cưới hỏi ít hơn, còn đã kết hôn thì lại ly dị nhiều hơn và sớm hơn thời trước. Hệ luận là dân số thấp xuống[1]
Vài thống kê ở Québec (dân số quãng 7 triệu), một tỉnh bang của Canada cho thấy:
. Số li dị (1998): 16 916
. Số cưới hỏi (1998): 23 756
. Cặp sống không cưới hỏi (1991): 305 920
. Cặp sống không cưới hỏi (1996) :400 270
. Thu nhập trung bình một gia đình có con, ở Canada: 65 000$ (1 Can$= 0.65 US$)
. Thu nhập trung bình một gia đình chỉ có một mẹ/ một cha ở Canada: 22 000$
. Trung bình số con trong mỗi gia đình*: 3,85 (1951) và 1,4 (1981)
. Số gia đình một cha hoặc một mẹ*: 85 000 (1951) và 208 435 (1981)
. Số con từ các bà mẹ độc thân*: 638 (1951) và 27 530 (1981)
Tóm lại gia đình vừa nhỏ lại, vừa nổ tung (rapetissement-éclatement). Các nhà dân số học cũng không biết diện mạo tương lai của gia đình  trong 50 năm nữa sẽ ra sao. Không có dấu hiệu là tỷ lệ sinh đẻ sẽ cao hơn trong những thập niên sắp đến . Thực vậy, phụ nữ lập gia đình càng ngày càng trễ, nên không thể sinh đẻ nữa; nhiều cặp vợ chồng đi làm cả hai và không muốn có con, được gọi dưới danh từ DINK nghĩa là double income, no kids.
Xã hội hóa già nhanh chóng; chỉ vài chục năm nữa thôi, các thế hệ baby boom (sinh trong khoảng 20 năm sau đệ nhị thế chiến) sẽ già hết; lúc đó trên toàn thế giới sẽ có 20% dân số là trên 65 tuổi. Vì dân số đông nhất ở Á Châu, nên người ta sẽ chứng kiến lão hóa rõ ràng nhất ở Châu Á. Sẽ có danh từ papy-boom để chỉ hiện tượng xã hội này. Tháp dân số trước kia thì lớn ở đáy, nhỏ ở trên; trong tương lai gần vì trẻ con ít, người già nhiều nên tháp dân số sẽ là tháp đảo ngược
4. Mười nguyên lý của học thuyết hệ thống
Hệ gia đình, vốn là một hệ thống mở vì hệ gia đình có quan hệ với hệ xã hội, hệ kinh tế, hệ văn hóa (truyền thống, niềm tin..) và các nguyên lý sau của tư duy hệ thống giúp phân tích sâu hơn.
4.1. Một hệ thống sống gồm nhiều cá thể để tạo thành khối của hệ thống
Một hệ thống sống gồm những cá thể như  tế bào, cơ quan, người, nhóm, tổ chức. Nếu áp dụng vào gia đình thì gia đình cũng là một hệ thống sống :  gia đình hạt nhân gồm cha mẹ, con cái còn gia đình rộng hơn thì phải kể thêm ông bà nội, ông bà ngoại, dâu, rể, cháu, chắt; xa hơn nữa phải kể luôn anh chị em ruột. Các cá thể này có các quan hệ qua lại, tác động hỗ tương lẫn nhau  và tác động với nhiều yếu tố khác và cuối cùng tạo thành nếp sinh hoạt gia đình: xung đột hay hòa nhập, cản trở hay thăng tiến.
Gia đình mang những đặc tính riêng, không thể có ở mỗi cá nhân. Những dặc tính đó phản ánh cấu trúc của gia đình bao gồm  những cá thể trai, gái ở mọi lứa tuổi khác nhau: anh em, chị em hoặc sự biến động của những cá thể theo năm tháng như  lấy vợ, lấy chồng.
4.2.   Một hệ thống  luôn luôn có những hệ thống phụ  và lại nằm trong một hệ thống lớn hơn
Trong một hệ thống có những hệ thống phụ chúng gặp nhau, cắt nhau, xuyên qua nhau, luồn vào nhau theo đủ mọi chiều hướng, nói khác đi có những tác động hổ tương. Chúng có những quan hệ  có tính cách biện chứng tức là chúng có ảnh hưởng lẫn nhau; cái này ảnh hưởng đến cái kia (một cách tích cực hoặc tiêu cực); cái này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm cái kia và ngược lại.
Khi nói đến hệ thống, ta phải hiểu rằng không những nó bao gồm nhiều  hệ thống phụ cấu tạo nên nó, mà các hệ thống phụ này lại nằm trong những hệ thống lớn hơn và các hệ thống này lại nằm trong các hệ lớn hơn nữa. Môi trường ngoại cảnh gồm nhều lớp tác động lên nhau:
– Vi hệ thống (microsystem): Có mối quan hệ giữa những cá thể trong gia đình và với những nơi hoặc các hoàn cảnh cá nhân có tiếp xúc trực tiếp với những người khác (ví dụ:  câu lạc bộ thể thao, sở làm, hàng xóm ..)
 – Trung hệ thống (mesosystem): đó là toàn bộ các tương quan của các vi hệ thống, là các nơi cá nhân có tham gia tích cực . Ví dụ: làm việc vui vẻ ở sở có thể ảnh hưởng đến lối xử thế tại nhà hoặc yêu người trong sở làm có thể gây gổ với vợ con khi về nhà
– Ngoại hệ thống (exosystem): đó là toàn bộ các nơi hay các hoàn cảnh chi phối đến cuộc sống cá nhân, dù cá nhân không tham dự vào (ví dụ: tình hình công việc làm ăn..)
– Vĩ  hệ thống (macrosystem): có mối quan hệ giữa gia đình với ngoại cảnh như hệ kinh tế (công việc), hệ xã hội (phong tục, tín ngưỡng, tập quán), hệ tinh thần (các giá trị, các niềm tin, tâm linh), hệ tâm lý (nâng đỡ tinh thần, tương trợ) và các hệ này có thể xem như nền một bức tranh (ví dụ: cá nhân chủ nghĩa, tiêu thụ, tiết kiệm, chuẩn mực xã hội..)
Vài ví dụ để thấy sự tương quan các hệ phụ trên:
Trên truyền hình hàng ngày, ta thấy chiếu phim về bạo hành, cá nhân bỏ nhà ra đi , bạo hành về gia đình khiến cho trẻ em bị ảnh hưởng.(macrosystem)
Vài hoàn cảnh cha mẹ không chủ động được cũng ảnh hưởng đến chất lượng của quan hệ cha-con (exosystem). Ví dụ: thất nghiệp, con cái học không được, thu nhập thấp làm cha mẹ bực mình, gây gổ, đánh con
Làm việc bị chủ rầy la, bị căng thẳng do đau ốm, do tiếng động, do buồn bực gia đình  cũng ảnh hưởng đến các đối xử quá lố với trẻ em (mesosystem)
Gia đình, nhà ở  là những nơi có tương quan mạnh giữa cha-con, mẹ-con (microsystem). Môi trường gia đình ảnh hưởng đến con cái:  nếu cha hoặc mẹ hoặc cả hai không để ý gì đến học hành, bạn bè của con cái, giao du thì chúng đâm ra hư hỏng. Từ sự tương quan các hệ phụ, ta thấy muốn tác động trên một vấn đề, phải nhìn xa và muốn có hiệu quả, phải để ý đến tương quan giữa nhiều vấn đề khác nhau và chú ý đến cả cộng đồng, trên mọi mặt và trên nhiều cấp độ.
4.3. Mọi hệ thống sống được xem như là các vật thể trong chuyển động theo cặp đôi
Trong hệ thống gia đình, có những quan hệ vợ-chồng, cha-con, mẹ-con, nàng dâu-mẹ chồng, anh-em, chị-em; xa xa hơn thì có ông-cháu, bà-cháu v.v. Các quan hệ này có thể là tương trợ (cộng sinh, hội sinh, hợp tác ..) hay quan hệ đối địch (cạnh tranh, ngoại tình, ghen tuông ..)
4.3.1.  Các quan hệ tương trợ
* Cộng sinh (symbiosis) là cả hai bên đều có lợi.
. Cộng sinh giữa anh chị em: chị giúp em nhưng cũng đồng thời hiểu thêm bài
. Cộng sinh giữa ông bà và cháu: ông bà giúp đỡ giữ cháu để bố mẹ đi làm  vừa vui tuổi già, nhưng con  cũng đưa cho cha mẹ tiền tiêu như một ủy lạo giữ trẻ  ông bà còn có thể giúp các cháu như nói chuyện, đưa đón cháu đi học về, kềm bài vở,  dạy Việt ngữ vào dịp hè
Già thì bế cháu ẳm con
Già đâu lại muốn cau non trái mùa ! 
Không những ông bà đem lợi  ích cho các cháu mà chính ông bà cũng học được ở các cháu . Vì cần có sự hiểu biết cập nhật hóa của giới trẻ nên qua nói chuyện biết thêm được đời sống trẻ hiện đại, nhờ vậy ông bà sống trẻ trung hơn, hiểu các thanh thiếu niên hơn và cảm thấy không bị bỏ rơi tụt hậu. Tóm lại, sự ràng buộc ông bà và cháu là một quan hệ cọng sinh vì cả hai thế hệ đều có lợi.
. Cộng sinh giữa vợ chồng:
Cộng sinh giữa vợ chồng như chồng đứng nấu ăn trong bếp, vợ làm bồi bàn trong một quán cơm; như chồng cày, vợ cấy trong canh tác đồng áng.
* Hội sinh (commensalism) là quan hệ giữa hai người nhưng chỉ một bên có lợi cần thiết, còn bên kia không có lợi và cũng không có hại gì.
Thực vậy, người chồng đi làm kiếm tiền, nhưng nếu không có người vợ lo toan, tính toán thì cuộc sống cũng không chu toàn.
 – Hợp tác: cũng giống như quan hệ cộng sinh, nhưng không nhất thiết phải thường xuyên chung sống với nhau . Ví dụ: anh em giúp vốn cho nhau để mua nhà, để kinh doanh, thay vì ra ngân hàng mượn tiền lãi xuất cao.
Anh em giúp nhau khi dời nhà, đau ốm cần anh em nương tựa, lúc hoạn nạn, vui buồn có nhau. Vô số câu tục ngữ để nói lên anh em, bà con ruột thịt trong gia đình luôn gắn bó với nhau ” lá lành đùm lá rách “, ” một giọt máu đào hơn ao nước lão, “ mười đời chưa rời cánh tay ” v.v Biết bao nhiêu người sau khi định cư ở nước ngoài, đã tìm cách bảo trợ cho anh chị em còn ở lại bên nhà hoặc gửi tiền về giúp
4.3.2.  Các quan hệ đối địch
*  Ức chế cảm nhiễm
Ví dụ quan hệ  nàng dâu, mẹ chồng  thường gay cấn, nhưng phải che dấu mặt ngoài, để tỏ ra mình là con dâu hiếu thảo, như ca dao:
Thương chồng phải khóc mụ gia
Chứ tôi với mụ, chỉ là người dưng
Hoặc:
Thật thà như thể lái trâu
Yêu nhau như thể ..nàng dâu mẹ chồng!
Lái trâu là hay tráo trở, không thể tin được, chừng nào mà họ thật thà trong nghề buôn bán thì lúc đó mẹ chồng mới hòa hợp với nàng dâu
Cảnh người vợ than chồng về cảnh khổ khi làm dâu:
Anh qua làm rễ bên em ăn cơm với cá
Em qua làm dâu bên anh ăn rau má với rạm đồng
* Ghen tương
Hồng nào hồng chẳng có gai
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng
hoặc:
Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Nhưng ghen không đâu vào đâu sẽ làm mất hòa khí, vì chồng/vợ có những quan hệ giao tiếp với xã hội, vì có ngoại cảnh, môi trường chi phối. Chính vì có tác động của môi trường chung quanh, nói khác đi đó là một hệ thống mở, do đó, phải thích nghi với môi trường mới.
* Ngoại tình
Ngoại tình trong tư tưởng của người vợ cũng đã khiến người chồng hững hỡ:
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Và từng thu chết, từng thu chết
Vẫn dấu trong tim bóng một người
(Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh.)
Người đàn ông cũng ngoại tình,  cũng  «bay bướm », dù đã có vợ, nhưng vẫn “ còn ước cau non trái mùa ”:
Đàn ông năm bảy lá gan
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người
Và ngoại tình là nguyên nhân đổ vỡ
 Có oản anh phụ tình xôi,
Có cam phụ quít, có người phụ ta
Có mực anh phụ tình son
Có kẻ đẹp giòn, anh phụ nhân duyên
Có bạc anh phụ tình tiền
Có nhân ngãi mới, anh quên em rồi
Cũng có trường hợp, một người con gái dù đã đi lấy chồng mà còn nhận quà tặng của người tình đầu tiên mà không thông báo cho chồng mình biết, dấu diếm, như vậy cũng có thể gây hiểu lầm, đi đến đổ vỡ . Chẳng thà dứt khoát như người con gái trong ca dao:
 Vẽ gì một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu!
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ ?
Chim vào lồng biết thuở nào ra ?
 * Cờ bạc
 Đây cũng là một yếu tố khiến gia đình tan vỡ. Hãy nghe lời một  người vợ than vãn:
Chồng em nó chẳng ra gì
Tổ tôm xóc đĩa nó thì chơi hoang
Nói ra xấu thiếp hổ chàng
Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà
Gần casino, có thể bị quyến rũ. Nói về casino, hiện nay cũng vì cái casino mà nhiều gia đình tan nát, mất cửa mất nhà. Một tờ báo ở Montréal, nơi tác giả ở, chạy tít lớn trên trang đầu: Le casino fait des ravages dans la communauté asiatique ; tỷ lệ người Việt không nhiều nhưng đỏ đen với casino thì rất đông:
Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà
Chính vì không thể chuyển dộng theo cặp đôi nghĩa là chỉ chú ý đến mình mà không chú ý đến người khác do cá nhân chủ nghĩa chi phối, tính toán nhiều quá, nên nhiều thanh niên thanh nữ sống độc thân càng ngày càng nhiều.
Xưa kia thì một (chồng) với một (vợ) là một; ngày nay, một với một là ba (tôi, anh, chúng ta). Tại Mỹ, có đến 43 triệu phụ nữ sống độc thân. Ở Québec, 40% phụ nữ  độc thân, nhiều xấp đôi cách đây 40 năm.
4.4.  Các hệ thống sống nhận năng lượng vào từ ngoài khác với hệ thống kín
Nếu ứng dụng vào gia đình, thì:
* Năng lượng ở đây có nghĩa là sự tìm hiểu đối tượng trước hôn nhân, chứ không yêu cuồng sống vội như trong bài hát:
«  tình cho không biếu không, tình là tình khi không mà có, tình là tình nhiều lúc có như không .. »
Những câu lạc bộ, những giới thiệu, những gặp gỡ, những trao đổi trong Internet giúp các bạn trẻ có dịp gặp gỡ nhau trên thực tế ngoài đời hay trên thực tế ảo (virtual reality) để trao đổi quan điểm về tình yêu,  về gia đình, về ứng xử lứa đôi, thay vì khi cưới xong rồi, người chồng và vợ khác biệt nhau, tị nạnh nhau về giữ con, rửa chén, làm giường, săn sóc  hoặc chồng lo T.V., vợ đánh casino. Nếu qua tìm hiểu đối tượng mà  thấy không có mẫu số chung để thành bạn đời thì cũng có thêm được một người. Quan hệ tình dục trước hôn nhân có thể dẫn đến đổ vỡ. Quan hệ tình yêu Thúy Kiều đối với Kim Trọng rất nồng thắm, “ xem trong âu yếm có chiều lả lơi ”, nhưng Thúy Kiều làm chủ được và đã khuyên Kim Trọng:
Trong khi chắp cánh liền cành
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên
* Năng lượng ở đầu vào của hệ thống cũng có thể là niềm tin, tin vào chính mình, tin vào gia đình vì mất đi niềm tin là mất tất cả. “ Những con mắt buồn phiền xin cấy lại niềm tin ” vì mất đi niềm tin có thể dẫn đến sự tự hủy hoại đời sống và đây cũng là một hiện tượng xã hội khá phổ biến, do đó cha mẹ phải nói chuyện với con cái trong tình thương mặn nồng:
 Có con thì phải dậy con
Dạy con nên khéo, nên khôn mọi đàng
Lãy lời hơn thiệt bảo ban
Tìm câu êm ái, dịu dàng nhủ khuyên
Dạy con nên thảo nên hiền
Dạy cho em dưới anh trên thuận hòa
* Năng lượng ở đầu vào của hệ thống cũng có thể là những lời ru con của mẹ in sâu vào tiềm thức đứa bé:
 Con ơi mẹ bảo con này
Học buôn học bán cho tầy người ta
Con đừng học thói chua ngoa
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười
Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài lo toan
Đời sống tinh thần của đứa bé được nuôi nấng từ những lời ru con, ru mây vào hồn, từ những âm thanh mộc mạc, đơn sơ, không màu mè, dạy con từ thuở còn thơ nhưng thấm dần với tiếng thời gian.
4.5.   Mỗi hệ thống phụ được xác định bởi khả năng tiếp nhận đầu vào (input) về vật chất, năng lượng, thông tin, dự trữ, chuyển hóa và đầu ra (output)
Trong sinh thái học, gồm các hệ thống phụ như thực vật, động vật, đất đai, nước.., các hệ phụ này có tác động qua lại với nhau: chúng nhận năng lượng, dự trữ năng lượng và chuyển hóa các năng lượng thành sản phẩm. Gia đình cũng vậy: nhận năng lượng như lời khuyên, giáo dục, cha mẹ nuôi con, tình yêu, công cha, nghĩa mẹ để nuôi con đến khi khôn lớn, học hành, thành tài,  dựng vợ gả chồng. Các lời khuyên răn, dạy dỗ giúp các em bé nhiều dự trữ văn hóa . Dự trữ có nghĩa là khả năng chịu đựng sự thay đổi, khả năng thích nghi và linh động, uyển chuyển, mềm dẻo . Dự trữ cũng là có khả năng đối phó linh hoạt với những biến cố ngẫu nhiên ngoài dự kiến .Nếu căn bản văn hóa càng sâu, càng rộng như dạy con cháu biết nói, viết, đọc Việt ngữ thì ít mất gốc hơn. Với vốn tiếng Việt, dù lưu lạc bốn phương, họ vẫn giữ được bản sắc Việt tính, bản sắc giống nòi, dù họ có biến thái theo môi trường xứ họ đang sống.
Sự thích nghi và tính đàn hồi, mềm dẻo làm cho hệ vững vàng hơn: cây sậy tuy yếu mà vẫn đứng vững trước gió. Cũng như trong thiên nhiên, nhiều hệ sinh thái rất yếu ớt, mảnh khảnh, không thích nghi vì không có sức đàn hồi nên khi điều kiện sinh thái thay đổi thì bị hỏng, mất đi, còn các hệ sinh thái thích nghi có thể trì kéo lại được.
4.6.  Cấu trúc của một hệ thống tùy thuộc vào các hệ thống phụ (sub-system) và vào các hệ thống lớn chi phối cũng như vào các mối liên hệ qua đó sự khởi động được thực hiện. Các hệ thống phụ được khởi động để phản ứng lại với các  thay đổi của các hệ phụ khác
Cấu trúc một hệ thống là toàn bộ các quan hệ của những hệ thống phụ . Các quan hệ này là xuyên qua các kênh giữa các hệ phụ trong đó đầu vào (input) là vật chất, năng lượng, thông tin và đầu ra (output) là các sản phẩm. Ví dụ khi cơ thể ( hệ thống) bị bệnh xâm vào thì  miễn nhiễm (hệ phụ) sẽ được kích năng để chống lại bệnh tật.
Thực vậy, gia đình chịu ảnh hưởng của nhiều hệ thống lớn hơn như:
 – Hệ thống chính trị: Chính vì hệ thống chính trị cọng sản mà người Việt Nam mới hàng hàng lớp lớp bỏ xứ ra đi tìm tự do. Các chiến tranh, các xung đột địa phương hay thế giới đã khiến lớp trai tráng hi sinh nhiều, để lại quả phụ:
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê,
để lại bao em bé  mồ côi hoặc  các phụ nữ phải sống độc thân vì thiếu đàn ông. Hệ thống chính trị qui định bắt buộc như Trung Quốc chỉ cho gia đình một con mà thôi
– Hệ thống kinh tế: Dĩ  nhiên ảnh hưởng đến gia đình nhiều nhất vì nếu không công ăn việc làm, nếu bị thất nghiệp thì hạnh phúc gia đình cũng bị chi phối. Thực tế là trong hệ gia đình, khi tài nguyên – tiền bạc- tăng hay giảm, sẽ có nhiều hậu quả.
– Hệ thống xã hội nhân văn: Gia đình ngày nay, vì cả cha lẫn mẹ đều đi làm, đi sớm, về  trễ  nên không còn thì giờ để ý đến con, con đâm ra hư hỏng. Gặp thêm bạn xấu ở học đường lôi cuốn đâm ra chích chóe, hút sách, rượu chè ; xem các chương trình khiêu dâm hay  bạo hành trên truyền hình lôi cuốn các em trong các hành vi tiêu cực và  đó là trái bom nổ chậm của thiếu niên.
Nhiều bà mẹ lo cho con đã phải dời chổ ở nhiều lần, tránh các khu phố có ngoại cảnh xã hội tiêu cực như gái bán hoa ngoài đường, thanh niên chích chóe.
Mất hứng thú trong học tập cũng là do xáo trộn môi trường gia đình như cha mẹ bất hòa, hoàn cảnh thất nghiệp và đó là môi trường tạo điều kiện (enabling environment) cho bạo hành gia đình.
– Hệ thống văn hóa: Bao gồm mọi yếu tố tinh thần, tâm lý, tâm linh, các giá trị. Hệ thống văn hóa được truyền thông qua các báo chí, các đài truyền thanh, truyền hình.
  Cả bốn hệ thống phụ này đều tương quan với nhau, lồng ghép lên nhau . Do đó trong sự nghiên cứu mọi hiện tượng nhân văn và xã hội, ta phải chú ý đồng bộ đến các hệ  đó để phân tích vấn đề.
Hệ gia đình luôn luôn chịu sức ép bên ngoài cũng như bên trong hệ thống:
– sức ép bên ngoài ở đây trong trường hợp gia đình Việt, bị nhiều yếu tố như  chồng cải tạo, vợ ở nhà nuôi con; khi chồng may mắn còn sống không chết trong tù cải tạo trở về gia đình thì mối tình cũng khác năm xưa.
– sức ép bên trong như con cái qua xứ lạ, học hành phải gấp rút để đuổi kịp chúng bạn, sống trong môi trường khác, nói tiếng khác.
Nếu hệ thay đổi quá nhanh theo sự thay dổi của ngoại cảnh thì hệ không ổn định được. Hệ phải tự điều chỉnh để giữ được thế ổn định, chỉ khi nào tác động vượt quá giới hạn của tính đàn hồi thì hệ mới thay đổi. Nhiều khi chỉ những việc đâu đâu mà hệ thống mất ổn định:
Rõ ràng sự nhỏ cỏn con
Bằng lông mà nảy ra cồn Thái Sơn
Xin đừng ra dạ Bắc, Nam
Đừng chê lươn ngắn mà tham trạch dài
Hệ thống mất ổn định và có thể đến diễn thế phân hủy với  li hôn li dị;  sau đó sẽ ảnh hưởng  đến các hệ phụ khác. Ví dụ.: con cái không ai chăm sóc sẽ dễ trở nên bạo hành và chính phủ phải cho chúng vào các trung tâm thiếu nhi phạm pháp, gây thêm gánh nặng cho toàn xã hội . Riêng về các nguyên nhân li hôn li dị, các nhà nghiên cứu về gia đình cho rằng không phải mức độ cũng như mật độ các vụ cải vã đã làm hủy hoại hôn nhân mà do tiến trình bốn giai đoạn: chỉ trích, khinh thường, chối bỏ và xa lánh. Đó là bốn giai đoạn then chốt mà nhà tâm lý học Mĩ John Gottman sau 20 năm nghiên cứu trên 2000 cặp vợ chồng luôn trong tình trạng xung đột. Theo ông, không phải vì tiền bạc, thiếu thỏa mãn tình dục hoặc không hợp tính khí sẽ gây ra việc chia tay. .Nguyên nhân  “ anh đi đường anh, tôi đi đường tôi ” là do một diễn thế tiềm tàng, từ lời chỉ trích nho nhỏ, nghĩa là không tôn trọng nhau ( oảnh ăn bận lôi thôi “,  ”  anh chả để ý đến vợ con ”, “ chỉ lo ba cuốn sách ”, “ bạn bè anh sao sao ấy ”, “ anh cứ bừa bải ”, “ anh cứ hút thuốc lá hôi cả nhà ”..)  sẽ đưa đến cảm giác khó chịu và từ đó biến thành sự khinh thường.
Chị em ơi, người ta trông thấy mặt chồng thì mừng,
Sao tôi trông thấy mặt chồng thì lại như gừng, như vôi!
Khi người bị chỉ trích chối bỏ tất cả những lời kết tội, từ chối tranh luận và đi đến chỗ rút lui vào yên lặng thì hai vợ chồng sẽ xa lánh nhau một cách nguy hiểm. Do đó sự truyền thông (communication) trở thành quan trọng để dung hòa quan điểm. Sự trò chuyện có tác dụng hai chiều, trò chuyện để đả thông tư tưởng, và trò chuyện trong ái ngữ,  vì « một lời là một vận vào khó nghe » (Kiều). Việc tôn trọng nhau giúp vợ chồng nhận biết sự khác biệt về quan điểm của nhau và việc mong muốn cả hai người có cùng một quan điểm trên mọi vấn đề là không thiết thực.
4.7.  Một hệ thống có thể sử dụng năng lượng ở đầu vào (input) để thay đổi các quan hệ giữa các hệ thống phụ hoặc để sản xuất  một đầu ra (output)
 Năng lượng có thể là tiền bạc, thông tin, lời khuyên, tình thương v.v. . Năng lượng ỏ đầu vào có thể thay đổi các liên kết giữa các hệ thống phụ, đó là giáo dục gia đình, khuyên răn sự  chịu đựng, kiên nhẫn, sự tha thứ, sự bao dung để gia đình có được phát triển bền vững hài hòa không gây gổ, không bạo hành. Người vợ khuyên nhủ chồng và đàng sau một người chồng thành công luôn luôn có hình bóng người vợ đứng ở phía sau, tuy âm thầm lặng lẽ  .
Năng lượng ở đầu vào có thể là giáo dục, nâng cao nhận thức. Ngày nay, muốn tạo được sự bình đẳng giữa nam nữ, giữa người này với người kia thì phải tự tin, phải chịu khó học tập, phải có tinh thần tự lập. Phụ nữ mỗi ngày một vươn lên cao nhờ học vấn, nhờ kinh doanh, nhờ tham gia sinh hoạt cộng đồng và xã hội và do đó có nhiều năng lực chuyển hóa được các quan hệ vợ chồng. Thực vậy, giáo dục là một phương cách để xây dựng năng lực (capacity building). Giáo dục cải thiện được các quan hệ giữa các hệ phụ và rất hiệu năng trong sự sử dụng năng lượng và thông tin  và góp phần vào sự nâng cao vai trò (empowerment) cho phụ nữ. Giáo dục về sinh lý và tình dục: theo International Planned Parenthood Federation IPPF có trụ sở chính ở Anh thì vì giới trẻ ngày nay  thiếu các thông tin về sinh lý và tình dục  mà trên toàn cầu, có đến 14 triệu các cô gái tuổi 18 và thấp hơn thụ thai và sinh con, trong số đó phần lớn là thụ thai ngoài ý muốn.
Riêng tại Việt Nam ngày nay, theo thống kê, hằng năm có khoảng 1,4 triệu ca nạo hút thai . Khoảng 30% số ca nạo hút thai thuộc về các em gái ở lứa tuổi vị thành niên và 50% số người nhiễm HIV/AIDS ở các độ tuổi từ 15-24. Khoảng 34% số gái mại dâm nằm trong tuổi vị thành niên. Giáo dục nhiều cấp: giáo dưỡng thông qua môi trường gia đình từ thuở còn thơ (ví dụ: cha mẹ dạy con cái, nói chuyện trong giờ cơm trong không khí thoải mái,) thông qua học đường từ tuổi cắp sách đến trường, thông qua các định chế tôn giáo (lời giảng của chùa hay trong nhà thờ vào ngày chúa nhật), thông qua các mối quan hệ ứng xử lành mạnh ngoài xã hội  (lớp dạy Việt ngữ, các hội thảo như Đại học hè, giúp về nguồn, các cháu tham gia vào lớp ca vũ dân tộc vừa giúp vui, vừa trở về văn hóa dân tộc).
4.8.  Tăng trưởng tạo ra hình dạng
Khi hệ tăng trưởng, hình dạng thay đổi; hệ thống càng lớn rộng, càng phải thêm năng lượng ở đầu vào. Gia đình lúc đầu nhỏ, nhưng sinh con đẻ cái, càng lúc mỗi năm càng lớn. Khi lớn rộng, nhà cửa cũng phải rộng hơn, nhưng chị lớn có thể dắt dìu các em nhỏ thay bố mẹ và cha mẹ càng lúc phải trông cậy vào người anh cả, chị cả: anh Hai, chị Hai chứ không thể cáng đáng mọi việc .
4.9.  Nếu xài năng lượng mà không có năng lượng nhập vào thì hệ sẽ rối loạn
Như trong hệ nông nghiệp nếu sản xuất  mà không có năng lượng ở đầu vào như phân bón thì hệ sẽ không cho thêm hoa màu, đất bị kiệt quệ.
Năng lượng nhập vào để có một gia đình hạnh phúc là một tình yêu chân chính (true love) và một cơ sở kinh tế ổn định. Chồng hay vợ thất nghiệp sẽ đem đến sa sút tài chính, cổ phần bị lỗ, casino thua bạc, làm ăn lổ lã do đó có nhiều yếu tố chi phối .Các gia đình lợi tức cao có cuộc sống ổn định; các gia đình nghèo, chạy ăn ba bữa toát mồ hôi thì sống bấp bênh, trẻ em không có thời gian làm bài hay học bài, dẫn đến thất bại trong học hành, và lúc đó đi móc túi, cướp bóc, gây xáo trộn xã hội
Tình yêu không có sự nghiệp,  không có công việc thì chỉ sau một thời gian ngắn, hạnh phúc sẽ nhanh chóng vụt bay khỏi tầm tay và hệ sẽ bị rối loạn. Cũng như một tình yêu chỉ được gọi là chân chính khi cả hai bên đều có tinh thần trách nhiệm cao để lo cho hạnh phúc gia đình.
Trong hệ gia đình, tình thương là một năng lượng, lời khuyên răn cũng là một năng lượng. Ông bà giúp cháu, đưa đón cháu đi học về, giúp bố mẹ các cháu là đóng góp thêm năng lượng cho gia đình con cái; khi các cháu lớn lên thì ông bà nhẹ gánh hơn.
Xã hội cũng phải tạo ra những cơ cấu mục đích tạo thêm dòng chảy năng lượng như tạo các cơ sở cho các em thiếu nhi phạm pháp, các trung tâm cao niên, các nhóm yễm trợ an ủi những người bị ung thư, các điện thoại giúp đỡ tránh tự vẫn. Trung tâm Nguyễn Trường Tộ tổ chức các Đại học hè hàng năm, các cộng đồng tổ chức các buổi gặp gỡ để con em trở về nguồn, gặp gỡ nhau
         
4.10.  Cấu trúc giới hạn tăng trưởng.
Hệ gia đình bị chi phối bởi ngoại cảnh nghĩa là có các vĩ  hệ thống chi phối nên hệ này sẽ còn thay đổi với thời gian. Ngay từ bây giờ, nhiều nhà dân số học đã thấy rõ xã hội hóa già rất nhanh chóng. Trong các xứ Âu châu thì Ý và Tây Ban Nha có tỷ lệ người già cao nhất, do đó trẻ phải đi làm lâu hơn để nuôi già, đóng tiền hưu mỗi tháng phải nhiều hơn để có hưu bổng nếu không quỹ hưu sẽ cạn. Tuổi thọ ngày càng tăng hơn trước, do tiến bộ y tế. Muốn cho hệ thống bền vững, phải có những cấu trúc mới như tăng di dân, có nhà già, có chuyên ngành giúp người già cả.
Riêng về người Việt ở hải ngoại, để giúp cho thanh thiếu niên về nguồn, các cấu trúc như truyền thông, giáo dục, truyền bá văn hóa, các trung tâm sinh hoạt văn hóa, thư viện Việt học, các lớp dạy văn hóa, dạy Việt ngữ cần củng cố và phát triển để cho các cháu có một môi trường thoang thoáng văn hóa Việt :giữ các truyền thống như Tết, lễ Vu Lan, hội hè; tôn giáo như chất keo ràng buộc mọi người: đi nhà thờ, đi chùa nghe các vị lãnh đạo tinh thần giảng lời rao, lời kệ, giáo lí giúp bỏ giận giữ, kềm chế lung lạc; ông bà chuyển giao các truyền thống như chúc Tết, mừng tuổi vào dịp Tết; các lễ hội, cúng kị giúp tăng gia niềm tin và đoàn kết; vai trò giáo dục của gia đình trong sự giữ bản sắc văn hóa Việt; gìn giữ gốc nguồn (appartenance); dạy con cháu biết nói, biết đọc và viết tiếng Việt để chuyện trò, nền tảng của cảm thông và liên đới cũng như tương quan giữa các thế hệ .Văn hóa Đông phương tôn trọng kỷ luật, kính trên nhường dưới, thờ cha kính mẹ; đặt nặng vào gia đình , xem gia đình như một điểm tựa tinh thần và vật chất.
 5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững trong gia đình.
Gia đình như vậy quả thật là một yếu tố to lớn trong việc hình thành nhân cách của đứa trẻ. Gia đình, tế bào của xã hội, như vậy rất đúng. Tế bào mà hư thì sinh ra ung thư khó chữa; gia đình mà hư hỏng thì xã hội cũng hư luôn. Tương tự một vật xúc tác trong một phản ứng hóa học, gia đình giúp các vật thể trong đó tạo các hỗ tương để phản ứng chóng hơn, thuận lợi hơn để tạo ra đầu ra tốt hơn và với một hiệu quả trọn vẹn hơn.
Gia đình là một định chế  có tầm quan trọng đặc biệt về tinh thần, tâm lí và xã hội. Nhưng hiện nay, gia đình rạn nứt. Nhiệm vụ của các nhà tâm lý học, xã hội học là xác định được bản chất của mối quan hệ, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả. Biết được các yếu tố chi phối đến sự bền vững sinh thái của gia đình (ngoại tình, cờ bạc, bạo hành lời nói hay bạo hành về cử chỉ) và hiểu cái gì tạo ra cân bằng là chìa khóa hiểu được bản chất của hệ thống. Một khi hệ thống trục trặc, mất cân bằng thì lúc đó, hệ phải tự điều chỉnh lại, nhưng nếu khả năng tự điều chỉnh vượt quá ngưỡng, hệ sẽ bị phá vỡ. Muốn hệ cân bằng trong gia đình, đạt đến sự vững bền, các yếu tố sau đây cần chú trọng:
– Chữ Hòa: Hòa theo các nghĩa hòa hoãn, hòa thuận, dung hòa, hòa hợp, hòa thuận v.v..  Đừng bao giờ giận nhau lâu cũng đừng bao giờ ghét nhau. Hãy quên hết sự giận hờn để rồi thương yêu nhau nhiều hơn. Hãy tin vào cái tốt hơn là cái xấu do đó nếu biết chồng hay vợ có một tật xấu nào đó thì tìm cách sữa chữa, không nên chê bai, làm nhục vợ hay chồng. Phải dung hòa cách biệt  bằng cách san bằng các dị đồng về mọi phương diện: sinh lý, sở thích, nhu cầu. Ở đời ai cũng có khuyết điểm; nên nhìn vào ưu điểm của vợ hay chồng; nói khác đi, không nên lý tưởng hóa quá người bạn đời bằng cách chê bai:
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra
Và cũng đừng quá lý tưởng hóa đối tượng, lý tưởng hóa cuộc sống vợ chồng về mọi mặt tinh thần,  cảm xúc, tình dục, tri thức v.v vì khi đặt mục tiêu phấn đấu quá cao, nhảy không qua mức, bổ xuống sẽ thất vọng.
– Tính thích nghi: Trong sinh vật học, các cá thể phải thích nghi với các biến đổi môi trường, nếu không sẽ bị chết. Và trong xã hội cũng vậy. Vì các điều kiện xã hội, kinh tế thay đổi do đô thị hóa, do truyền thông đại chúng nên cá nhân cũng phải thích nghi, phải biến đổi, phải tái phối trí trong các các điều kiện mới; nếu không thích nghi được, không nhẫn nhục,  không muốn trách nhiệm chung sống trọn đời với người hôn phối thì hệ thống sẽ bị phân hủy..Mềm mỏng và dễ chịu tức là dễ thích nghi với  thay đổi: cây sậy nhờ mềm mỏng nên không bị gió lốc cuốn đi.
Người vợ ngày nay đi làm để tự túc về tài chính, để phụ thêm kinh tế gia đình; nhiều người thích hoạt động xã hội do đó hay giao tế nhưng chồng lại không thích nghi vói môi trường mới và hay ghen nên có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ vợ chồng. Bảo lãnh gia đình qua sẽ thêm hạnh phúc, nhưng nếu các cụ không thích nghi mà vẫn giữ các giá trị cũ như đòi ăn trầu, hút thuốc Cẩm lệ thì dĩ nhiên khó thỏa mãn. Qua sống các nước Tây phương, không còn cảnh mẹ chồng nàng dâu nữa, không còn cảnh chồng chúa, vợ tôi như xưa ở Việt Nam.
– Chữ Nhẫn: Nhẫn như trong các từ nhẫn nại, nhẫn nhục, kiên nhẫn.
Trong gia đình đông người bá nhân bá tính, sự thích nghi  đòi hỏi sự nhân nhượng. Chữ nhẫn rất cần. Tinh tấn và nhẫn nhục là hai từ trong Phật giáo.Một sự nhịn là chín sự lành. Vợ chồng cần tin tưởng, nhường nhịn lẫn nhau.
Mặc dầu:
            Thế gian được vợ mất chồng,
Nào phải như rồng mà được cả đô
Nhưng khi có bất đồng, nhẫn nhục là điều cần:
 Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê   
Khi bất hòa thường không kiểm soát được lời nói, cử chỉ, cảm xúc và gây bạo động trong gia đình. Điều này được các nhà tâm lý học gọi là thiếu thông minh cảm xúc (loss of emotional intelligence) hay là Emotional Quotient (EQ) . Nói khác đi, phải học giá trị của sự tự chủ: thắng vạn quân không bằng tự thắng lòng mình.
– Sự chân thành và quan tâm:
Việt Nam có danh từ tình nghĩa vợ chồng. Ngoài tình lại còn có nghĩa:
Rủ nhau xuống biển mò cua
Đem về nấu với mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau
Ta đừng quên nhau, có nghĩa là phải biết cùng nhau chia sẻ tương lai, chia sẻ các dự tính để xây dựng tương lai, bàn luận, xây dựng như nhà văn hào Pháp Antoine de St Exupéry viết:  Tình yêu không phải là nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng
 – Nên có một không gian riêng
Trong gia đình ở chung với nhau, bố mẹ chồng, em dâu, anh rể v.v thế nào cũng có chuyện lục đục; do đó, nếu có sự nghiệp thì nên ở riêng, không nên ở chung. Nhà ai nấy ở, việc ai nấy lo. Biết bao nhiêu trục trặc khi sống chung trong một mái nhà sẽ giảm bớt nếu ở riêng .
6. Kết luận. 
Tựa đề bài tham luận này so sánh gia đình là một tế bào của xã hội. Tế bào con người chỉ có 23 cặp nhiễm thể và hệ gen (genome) của con người, theo các khám phá gần đây, cũng chỉ có 30 000 gen nghĩa là không nhiều lắm. Thế mà từ khi con người xuất hiện trên hành tinh này chỉ vài trăm ngàn năm nay mà thôi mà đã có không biết bao nhiêu là vấn nạn.
Khi chưa có ta hề
Đường đi thênh thênh
Kíp đến khi có ta hề
Chông gai mông mênh
(Vũ Hoàng Chương)
Nhưng cái vấn nạn quan yếu nhất là thiếu tình thương. Chính vì vậy mà chiến tranh xảy ra, chính vì vậy mà đâm chém, bạo hành xảy ra hàng ngàỵ. Mà muốn tình thương nẩy nở thì môi trường thuận lợi nhất để gieo hạt giống tình thương chính là gia đình: hạt giống muốn ra hoa, ra trái thì phải có hệ thống rễ tốt để bám chặt, hút chất bổ mới có lá hoa sum sê. Còn hạt giống bị ném vào các môi trường xa lạ thì dĩ nhiên con người bị vong thân, phóng thể . Như vậy phải củng cố gia đình với tình thương, với nụ cười ở trong tim,  nhìn cuộc đời với niềm vui trong ánh mắt thì tình thương sẽ rạng rỡ vì không tình thương thì  gia đình rời rạc, kéo theo hệ quả về xã hội. Tình thương là hơi thở tiếp tế sinh lực và thiếu tình thương cũng như thiếu dưỡng khí.
Nhà nghèo nhưng con cái đầm ấm, trên thuận dưới hòa thì vẫn vui như trong thơ của Tản Đà:
Xa xa con đã tới gần
Các con về đủ quây quần bữa ăn
Cơm dưa muối khó khăn mới có
Của không ngon, nhà khó cũng ngon
Khi vui câu chuyện thêm dòn
Chồng chồng vợ vợ con con một nhà ..
Nhưng xã hội cũng là môi trường để gia đình phát triển; đó là một xúc tác như trong một phản ứng hóa học. Xúc tác ấy giúp gia đình có cơ nẩy nở trong điều kiện tối ưu; xã hội có điều kiện tâm linh, tinh thần giúp con người phát triển được con tim, giúp con người củng cố  tình thương, sống không hận thù qua các phạm trù Từ, Bi của Phật giáo, qua Bác Ái của Công giáo, qua lòng Nhân của Khổng giáo, qua tình yêu thiên nhiên của Lão giáo . Nói cách khác, một môi trường xã hội nhân văn lành mạnh kết hợp hài hòa với truyền thống đạo đức văn hóa với nhu cầu vật chất tinh thần hiện đại   là những yếu tố thuận lợi để gây dựng một nền văn hóa của tình thương, hiệp nhất trong dị biệt, tha thứ, bao dung và chấp nhận lẫn nhau.
 Tác giả: Thái Công Tụng
Tài liệu tham khảo sơ lược
Catherine Clément. Ce siècle qui nous a changé la tête, Albin Michel  1999
Fernand Seywert. L’évaluation systémique de la famille,  PUF 1990
Đỗ Minh Trí, SJ .Gia đình năm 2000  San Diego
Evan Imber-Black. Le poids des secrets de famill, Robert Laffont 1999
Robert J. Vallerand. Les fondements de la psychologie sociale,    Gaetan Morin éditeur 1994